TT - Hai năm liền TP Đà Nẵng giữ vững vị trí đầu bảng về chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh ( PCI ) đồng thời được xem là thành thị có môi trường sống trong
lành , sạch đẹp. Thảo luận với tuổi trẻ , ông Trần Văn Minh - chú tâm UBND TP Đà
Nẵng - khẳng định:
- mục đích của Đà Nẵng trong năm 2010 là hướng đến một thành thị xanh , đảm
bảo môi trường sống trong lành cho cư dân , đồng thời tập trung tăng cường hơn
nữa tính công khai phân tích minh bạch về chủ trương chính sách , mở rộng dân
chủ đi kèm một số định hướng mang tầm chiến lược như lựa chọn mô hình phát triển
thân thiện với môi trường , cải thiện mạnh mẽ hạ tầng cơ sở , đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ báo cáo trong tất cả loại hình service , quy hoạch , thúc đẩy đầu tư
và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn du lịch , dịch vụ...
* Thưa ông , Đà Nẵng đã lập được một thành tích khá ấn tượng với hai năm liền
xếp thứ nhất trong bảng xếp hạng chỉ số PCI. Ông có xác xuất cho biết chính
quyền TP đã có những động thái gì để giữ vững ngôi vị số 1 này?
- chúng ta đã thực hành các nghề nghiệp theo quan điểm đặt mình vào vị thế
của doanh nghiệp ( DN ) và nhà đầu tư. Nhờ vậy kết quả cho thấy ngh ii nhất là
chỉ số tính năng động của chính quyền TP. Có đến 82 , 87% DN ý là TP luôn linh
động trong việc giải quyết những trở ngại đối với cộng đồng DN , 92 , 34% DN ý
là TP khai triển tốt trong khuôn khổ các quy định của trung ương. Thời kì đợi
chờ thực sự để hiện diện bằng kinh dinh từ 75 ngày năm 2008 chỉ còn 60 ngày
trong năm 2009 , tỉ lệ các DN gặp khó khăn về mặt thủ tục được cấp đầy đủ giấy
phép cần thiết tăng từ 2 , 8% trong năm 2008 lên 10 , 98% trong năm 2009.
* Tốc độ thành thị hóa quá nhanh đã làm Đà Nẵng trở nên TP có mật độ cây xanh
trên đầu người thấp nhất so với cả nước. Theo ông , cần làm chi để Đà Nẵng không
còn cảnh “thừa nắng , vắng cây”?
- Trong thời kì tới TP sẽ chú trọng hơn khâu quy hoạch thành thị và chú ý hơn
các mảng xanh thành thị. Trong khâu duyệt thiết kế các dự án lớn đòi hỏi nhà đầu
tư phải dành một tỉ lệ 20-30% để trồng cây xanh. Muốn tạo điểm nhấn về cây xanh
phải có một quy hoạch lâu dài. Mình chẳng thể ở theo cách quy hoạch bây giờ được
và việc xây dựng các khu cư xá cao tầng sẽ kiệm ước diện tích đất , từ đó tạo ra
các khu cây xanh lớn. Về lâu dài , Đà Nẵng sẽ tạo ra những khu như vậy.
Với các chỉ số “tiếp cận đất cát và sự ổn định trong sử dụng đất” và “chi phí
không chính thức” còn xếp hạng thấp , UBND TP chỉ đạo các sở , ban ngành liên
tưởng thực hành tốt kế hoạch “một cửa liên thông”. Chỉ đạo tổ chức hội thảo
“Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của TP Đà Nẵng” và mời TS Jim Winkler -
giám đốc dự án nâng cao năng lực cạnh tranh VN ( VNCI ) - tham gia để tham vấn
cho chính quyền Đà Nẵng đưa ra những giải pháp tốt nhất nâng cao chỉ số PCI.
Và UBND TP chính thức chỉ đạo các đơn vị tập trung tăng cường hơn nữa tính
công khai phân tích minh bạch về chủ trương chính sách cho quần chúng , DN và
nhà đầu tư được biết.
* Đà Nẵng đã làm chi để thực hành hiệu quả sự phân tích minh bạch trước cộng
đồng?
- Về chỉ số năng lực cạnh tranh có chín chỉ số , trong đó có tính phân tích
minh bạch và được tiếp cận báo cáo của quần chúng , DN và nhà đầu tư. Cùng với
việc cung cấp đầy đủ , thường xuyên báo cáo cần biết trên các công cụ báo cáo
đại chúng , website của UBND TP ở địa chỉ: danang.gov.vn và website của các sở ,
ban ngành , TP cũng đã hình thành trọng tâm thúc đẩy đầu tư. Cơ quan này là
trọng tâm cung cấp báo cáo về đầu tư , chủ trương của TP với thương nhân và du
khách trong và ngoài nước.
ngoại giả trong khâu canh tân thủ tục hành chính , chúng ta đặt ra vấn đề
muốn canh tân tốt khâu hành chính thì các cơ quan đơn vị có quan hệ trực tiếp
với người dân và nhà đầu tư như đất đai... cần công khai bộ hồ sơ thực hành và
thực hành tốt chính sách một cửa liên thông. Các vấn đề có liên quan nhiều ngành
thì sở đó phải nhận bổn phận liên tưởng các sở khác , sau khi có kết quả thì sở
đó báo cáo kết quả đến người dân và nhà đầu tư. Phần này TP đã làm công khai và
phân tích minh bạch nên người dân tiếp cận rất dễ dàng.
Đà Nẵng là TP dẫn đầu nhưng chưa phải là tốt nhất và vẫn còn các tiêu chí cần
được liên tiếp cải thiện. Chúng ta căn cứ vào chỉ số PCI trong nước để hướng đến
việc tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao từ các chuye công nghiệp
service , du lịch , tài chính - ngân hàng , công nghệ thông tin...
Giải pháp cốt yếu trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh là có chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội , nâng cao chất lượng điều hành nền kinh tế địa
phương , trong đó nâng mức độ thu hút đầu tư nước ngoài lên cấp độ 1. Đà Nẵng
không hướng đến việc phát triển thành thành thị sầm uất như Hà Nội và TP.HCM mà
phát triển theo hướng TP công nghệ cao , TP môi trường , TP du lịch.
KIM EM thực hành
Đà Nẵng còn nhiều việc phải làm
Năm 2009 là năm thứ hai liên tiếp Đà Nẵng đứng đầu cả nước trong bảng xếp
hạng PCI. Việc chính quyền TP xác nhận sẽ tiếp kiến trong lành hóa môi sống lâu
thái và môi trường kinh dinh là một tín hiệu đáng mừng cho người dân và DN vì
nếu làm được , những thành quả Đà Nẵng nhận được là không nhỏ.
Qua chỉ số PCI với điểm số 75 , 96 trên 100 điểm , khoảng không cho Đà Nẵng
cải thiện môi trường kinh dinh , chất lượng điều hành kinh tế của mình còn rất
nhiều. Các DN đã “chấm điểm” Đà Nẵng đứng đầu cả nước trong hai chỉ số gia nhập
thị trường ( 9 , 52 điểm ) và đào tạo cần lao ( 7 , 69 điểm ). Còn nhiều chỉ số
khác Đà Nẵng thấp hơn một số tỉnh dưới mình nhiều bậc về tổng thể. Một số chỉ số
quan yếu như thể chế pháp lý , tiếp cận đất cát hay phí tổn không chính thức Đà
Nẵng chỉ được đánh giá ở mức trung bình.
Giữ được những canh tân tiến bộ trên thực tiễn còn quan yếu và khó khăn hơn
cả việc đạt được trong một năm. Như với chỉ số “chi phí gia nhập thị trường” ,
điều đáng lo là tỉ lệ phần trăm DN gặp khó khăn để có đủ các giấy phép cần thiết
của Đà Nẵng đã tăng mạnh từ 2 , 08% năm 2008 lên 10 , 98% năm 2009. Cần phải coi
xét kỹ định mức này vì nó đã thể hiện một kết quả không tốt sau thời kì từ năm
2006-2008 có kết quả rất ấn tượng.
Với chỉ số “tính minh bạch” , dù Đà Nẵng được đánh giá cao , dù DN đã dễ dàng
tiếp cận các văn bản pháp lý , quy hoạch , kế hoạch của tỉnh nhưng đáng chú ý là
các DN ý là cần có “mối quan hệ” để có được các tài liệu trên đã tăng từ 36 ,
03% ( năm 2008 ) lên 47 , 93% ( năm 2009 ). Đây là điều rất đáng được xem lại để
Đà Nẵng có xác xuất giữ việc xếp hạng cao những năm tiếp theo.
Đặc biệt , các nhân tố cấu thành chỉ số “chi phí không chính thức” của Đà
Nẵng đã có xu hướng tăng lên. Riêng tỉ lệ DN ý là phí tổn không chính thức đang
là ngăn cản đối với hoạt động kinh dinh ( rất khó khăn hoặc tự do tương đối khó
khăn ) ở Đà Nẵng đã tăng vọt từ 23 , 85% năm 2008 lên 68 , 85% năm 2009. Chỉ có
31 , 15% DN ý là “không khó khăn gì hoặc khó khăn không đáng kể!”.
Đà Nẵng còn nhiều việc phải làm và những việc đó sẽ không dễ dàng. Điều quan
yếu hơn la đà Nẵng không nên chỉ so sánh mình với các địa phương khác trong cả
nước , Đà Nẵng cần so sánh mình với nhiều TP của các quốc gia khác trong chuye
để định ảnh được vị thế xác thực của địa phương.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét